Lịch sử hình thành và phát triển thư pháp Việt Nam

Đã nhắc đến lịch sử hình thành của thư pháp thì không thể không đề cập tới sự ra đời và phát triển của chữ viết. Có chữ viết mới có thư pháp. Thư pháp có tồn tại và phát triển được hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc chữ viết đó gắn bó và gần gũi với một dân tộc đến nhường nào.

Trong khi các nước đồng văn đều bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chữ Hán, như Nhật Bản, Hàn Quốc, dù có sáng tạo được kiểu chữ riêng thì con chữ vẫn được đóng khung trong một khối vuông như chữ Hán của Trung Quốc, và thậm chí một phần chữ Hán vẫn tồn tại trong ngôn ngữ của họ cho đến ngày nay.

Trong khi đó, Việt Nam chúng ta nằm sát Trung Quôc lại gần như tách ra hẳn, vượt ra khỏi giới hạn địa lý để cuối cùng lại chọn chữ Quốc ngữ được tạo nên từ những ký tự Latinh đến từ phương Tây. Không bị bó buộc lại trong một ô vuông, càng không dùng đến chữ Hán trong hệ thống chữ viết của mình. Nếu có dùng thì những chữ đó cũng đã được phiên âm hoàn toàn sang chữ cái Latinh. Điều gì đã tạo nên sự khác biệt độc đáo đó? Hãy cùng tôi ngược dòng lịch sử để tìm hiểu trong bài viết này.

1. Chữ viết đầu tiên của người Việt

Như bao dân tộc khác, trước khi có chữ viết riêng, người Việt chủ yếu truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ nói. Từ thế kỷ II TCN, nước ta rơi vào thời kỳ Bắc thuộc. Trong thời kỳ này, để đồng hoá dân tộc ta, chữ Hán đã được đưa vào sử dụng trong hầu hết mọi lĩnh vực, hành chính, giáo dục, và văn học.

Và trong hơn 1000 năm này, chữ Hán trở thành chữ viết chính thức, và ngôn ngữ chính thức trong mọi lĩnh vực của xã hội. Tầng lớp trí thực Việt Nam buộc phải học chữ Hán để tham gia vào bộ máy quan lại. Ở thời kỳ này, thư pháp của chúng ta nếu có, thì toàn bộ đều được truyền cảm hứng và học hỏi từ Trung Quốc.

2. Sự ra đời của chữ Nôm – chữ viết riêng của người Việt

Chữ Hán tuy giúp cho người Việt ta tiếp thu văn hoá, triết học và cả đạo lý Nho gia từ Trung Quốc, nhưng lại không thể hiện được hết tiếng nói của người Việt ta. Bởi chữ Hán là chữ tượng hình, tập trung vào việc biểu ý, trong khi ngôn ngữ nói của người Việt lại đa dạng âm sắc, trầm bỗng rõ ràng. Thế nên trong quá trình tiếp thu chữ Hán, người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm – một hệ thống chữ viết dùng chữ Hán làm cơ sở, nhưng đã được cải biên để ghi lại những âm sắc trong tiếng Việt một cách chính xác hơn.

Hệ thống chữ Nôm được tạo ra nhiều cách khác nhau như sau:

  • Mượn cả âm đọc (âm Hán Việt) và nghĩa của chữ Hán: dùng cả nghĩa lẫn âm của chữ Hán ****(ví dụ: “mai” (梅) nghĩa là cây mai).
  • Mượn chữ Hán đồng âm hoặc cận âm để ghi âm: Dùng âm chữ Hán, không dùng nghĩa **(**Ví dụ: Chữ 這 – gió (mượn âm “giá”)
  • Mượn chữ Hán đồng nghĩa hoặc cận nghĩa: dùng nghĩa chữ Hán, không dùng âm ****(ví dụ: Chữ 能 – năng  có nghĩa là có tài, có năng lực được dùng để ghi lại từ “hay” trong “văn hay chữ tốt)
  • Chữ tự tạo – Chữ hợp thể: chữ được tạo ra bằng cách ghép hai hoặc nhiều hơn chữ khác thành một chữ. (ví dụ: ấy : lược nét chấm “丶” trên đầu chữ “ý” 衣. Việc lược bớt nét bút này gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này không đọc là “y” hay “ý” mà cần đọc chệch đi.)
  • Mượn âm của chữ Nôm có sẵn: dùng chữ Nôm có sẵn để ghi lại từ tiếng Việt đồng âm hoặc cận âm; nhưng khác nghĩa hoặc đồng nghĩa, khác âm với từ được mượn.

Chữ Nôm đã sớm xuất hiện từ thời Ngô Quyền (thế kỷ X), nhưng phải đến thời nhà Lý (thế kỷ XI-XII) mới bắt đầu được phát triển mạnh mẽ. Đến thời nhà Hồ (thế kỷ XV), Hồ Quý Ly lần đầu tiên sử dụng chữ Nôm trong các văn bản hành chính. Và chữ Nôm được phát triển rực rỡ nhất là dưới thời Lê và thời Nguyễn với nhiều tác phẩm văn học kinh điển, mà nổi bật trong đó là Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Dù được khuyến khích và có thời kỳ phát triển mạnh, nhưng việc học chữ Nôm lại có phần khó khăn, nên không phổ biến được trong dân gian. Vì chữ Nôm, phát triển dựa trên chữ hán, muốn học được chữ Nôm, lại phải tinh thông chữ Hán trước, sau đó mới học thêm quy luật tạo ra chữ Nôm. Bởi thế mà việc học vô cùng phức tạp, khó tiếp cận được với đại chúng, gần như chỉ có tầng lớp trí thức cao mới tiếp cận được.

Tương tự vậy, mặc cho chữ Nôm rất được khuyến khích bởi các tầng lớp trên, nhưng thư pháp chữ Nôm lại không thể phát triển mạnh mẽ được như thư pháp chữ Hán. Vì hai lý do chính: thứ nhất, chữ Hán vẫn chiếm ưu thế hơn trong văn bản hành chính và khoa cử; Thứ hai, chữ Nôm nhìn chung tương đối phức tạp, nhiều nét ghép, khó thể hiện sự thanh thoát trong thư pháp. Nên là dù chữ Nôm đạt được đến đỉnh cao vì được sử dụng rộng rãi trong văn học, thì thư pháp chữ Hán vẫn chiếm ưu thế hơn.

3. Chữ Quốc ngữ – Hệ chữ viết chính thức của Việt Nam

Đến thế kỷ XVII, các giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam để truyền giáo. Nổi bật thời kỳ đó có Alexandre de Rhodes đã có công lớn trong việc tạo nên hệ thống chữ viết tiếng Việt dựa trên bảng chữ cái Latinh. Ban đầu, chữ Quốc Ngữ được tạo ra chỉ để phục vụ việc truyền đạo Thiên chúa. Về sau, không chỉ thực dân Pháp, mà nhiều trí thức Việt Nam cũng nhận ra lợi ích to lớn của chữ Quốc ngữ trong việc truyền bá và nâng cao dân trí tầng lớp bình dân. Đến năm 1919, triều đình nhà Nguyễn quyết định bãi bỏ hệ thống khoa cử bằng chữ Hán- Nôm, đánh dấu cho sự suy tàn của chữ viết này. Cũng kể từ đó, chữ Quốc ngữ được in ấn, giáo dục, và sử dụng rộng rãi trên khắp cả nước và dần dần thay thế hẳn chữ Nôm và chữ Hán.

Khi chữ Quốc ngữ ngày càng trở nên phổ biến hơn, thì một số người thuộc tầng lớp trí thức, và cả nghệ nhân bắt đầu thử nghiệm viết thư pháp chữ Quốc ngữ. Nổi bật lên hẳn, có nhà thơ Đông Hồ, cụ được xem là người đầu tiên sử dụng cọ và mực tàu để viết chữ Quốc ngữ, gọi là thư pháp chữ Quốc ngữ. Cụ cũng chính là người đã phổ biến thư pháp chữ Quốc ngữ cho nhiều người biết đến. Những tác phẩm mà cụ để lại, có thể chưa hoàn chỉnh ở một khía cạnh nào đó, và cũng như chưa có một hệ thống lý luận hay nghiên cứu nào hỗ trợ đằng sau. Nhưng có thể nói, chính cụ Đông Hồ là người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho thư pháp chữ Quốc Ngữ của Việt Nam ta. Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, nhiều người đam mê con chữ vẫn mặc định trong lòng, nhà thơ Đông Hồ là cụ tổ của ngành thư pháp Việt.

Sự thoái trào của chữ Nôm, chữ Hán, thư pháp chữ Nôm, chữ Hán cũng dần trở nên xa lạ, và không được ưa chuộng nhiều trong công chúng. Cùng lúc đó, sự xuất hiện của thư pháp chữ Quốc ngữ, đã tạo nên một làn sóng văn hoá mới, vẫn giữ đậm chất Á Đông với hình ảnh ông đồ cầm bút lông, chấm mực tàu, hoạ con chữ, trên giấy đỏ. Nhưng con chữ đó ta có thể dễ dàng đọc được, hiểu được, gần gũi hơn rất nhiều với người dân, hẳn vì lý do này thư pháp chữ Quốc ngữ rất được người dân đón nhận.

Ngày nay, thư pháp Việt ngày càng được khuyến khích phát triển và lan rộng với ngày càng nhiều các buổi triển lãm về thư pháp Việt trải rộng khắp từ Bắc vào Nam. Ngày càng nhiều các bạn trẻ yêu mến và theo học bộ môn nghệ thuật này. Nhưng việc theo đuổi bộ môn viết thư pháp này, đa phần là tự phát, chưa có hệ thống, chưa có quy chuẩn rõ ràng, nên thượng vàng hạ cám còn lẫn lộn. Thế mới thấy, chúng ta vẫn còn một chặng đường rất dài, để thư pháp Việt có thể trở thành một bộ môn nghệ thuật truyền thống thực sự của Việt Nam. Dẫu vậy, với sự yêu mến, chào đón nồng nhiệt của công chúng, chúng ta hoàn toàn có thể tin vào một tương lai phát triển mạnh mẽ hơn nữa của ngành thư pháp Việt Nam.

4. Tóm lại

Đất nước Việt Nam chúng ta, với một lịch sử biến động không ngừng, đã trải qua 3 hệ chữ viết chính: chữ Hán, chữ Nôm, và chữ Quốc Ngữ. Chữ Hán từng thống trị và là công cụ để đồng hoá người Việt ta. Bởi thế mà chữ Nôm ra đời như một sự khẳng định về sự tồn tại của dân tộc Việt, ghi lại được âm thanh, tiếng nói của người Việt. Nhưng cuối cùng, chữ Quốc ngữ, với sự đơn giản và dễ học đã xoá mù và đem lại tri thức cho tầng lớp bình dân, trở phổ biến và được công nhận là chữ viết chính thức cho đến ngày nay.

Có thể nói, dù chữ Hán – Nôm không còn phổ biến ở nước ta nữa, nhưng chúng vẫn đóng vai trò quan trọng trong di sản văn hoá của dân tộc ta. Bởi thế mà dù phong trào thư pháp Hán – Nôm đã thoái trào thì ngay nay, vẫn có không ít người đam mê và theo đuổi bộ môn này, không kém gì thư pháp chữ Quốc ngữ, đặc biệt là ở các tỉnh phía Bắc nước ta.

Similar Posts

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *