Phân biệt chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ
Cá nhân Diệu Bình phải thừa nhận một sai lầm rằng: Trước đây, thời còn chưa tìm hiểu sâu về thư pháp và chữ viết, Diệu Bình đã có vài hiểu lầm cực kỳ tai hại về ba loại chữ ở nước ta. Diệu Bình cho rằng chữ Quốc ngữ phát triển dựa trên chữ Nôm nên hai chữ này sẽ có hình thái tương đối giống nhau. Thậm chí Diệu Bình còn nghĩ, âm hán Việt phiên âm từ chữ Hán chính là chữ Nôm. Còn chữ Hán là chữ của Trung Quốc, không liên quan gì đến chữ Nôm.
Nhưng tất cả điều này hoàn toàn không chính xác. Thế nên, để tránh tình trạng nhầm lẫn, thì hôm nay Diệu Bình xin trích xuất các khái niệm cơ bản dưới đây để mọi người dễ phân biệt. Từ đó, các bạn có thể hiểu đúng và sử dụng chính xác các thuật ngữ trong quá trình nghiên cứu và theo đuổi con chữ Việt của mình.
1. Chữ Hán
Chữ Hán, hay còn được gọi với những cái tên khác như: Hán tự, chữ Trung Quốc. Chữ Hán bao gồm hai loại:
- Chữ Hán cổ (hay còn gọi là chữ Phồn thể): đây là hệ thống chữ viết truyền thống, có nguồn gốc từ xa xưa và từng được sử dụng làm chữ tiêu chuẩn tại Trung Quốc từ thế kỷ thứ V trong thời kỳ Nam Bắc Triều
- Chữ Hán hiện đại (còn gọi là Giản thể): Đây là một phiên bản rút gọn của chữ phồn thể, được đơn giản hoá một số thành phần, hoặc bộ thủ trong chữ truyền thống. Nó được tạo ra từ năm 1950 cho đến nay, có khoảng 2500 chữ giản lược. Mục đích của việc đơn giản hoá này là nhằm giúp người dân dễ học hơn, giảm bớt khó khăn trong việc học chữ. Hiện nay, Trung Quốc đại lục đang dùng chữ giản thể này là chủ yếu.
- Ví dụ: Chữ “Hán Tự” viết dưới dạng chữ phồn thể là: 漢字, viết dưới dạng giản thể là: 汉字.
Chữ Hán là thuộc dạng chữ viết biểu ý (chữ viết thể hiện hình dạng, ý nghĩa của sự vật, hiện tượng,..). Chữ Hán có nguồn gốc từ Trung Quốc, sau đó du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, tạo thành vùng được gọi là vùng văn hóa chữ Hán hay vùng văn hóa Đông Á. Bởi thế mà ta vẫn hay gọi các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam là các nước đồng văn. Tại các quốc gia này, chữ Hán đã và đang được vay mượn để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng quốc gia.
Ví dụ: Ở Nhật Bản trên cơ sở nền tảng chữ Hán, người Nhật đã sáng tạo ra chữ viết riêng. Chữ Nhật Bản sử dụng bảng chữ cứng Katakana, bảng chữ mềm hiragana và Hán tự, trong đó Hán tự chiếm tỷ lệ khá nhiều. Vì vậy nhiều người Nhật Bản thậm chí còn có thể đọc được báo của Đài Loan (vì người Đài Loan vẫn dùng chữ phồn thể). Ở Việt Nam, chữ Hán cổ được dùng để sáng tạo ra chữ Nôm.
Danh từ “chữ nho” được dùng để chỉ “chữ Hán cổ” được người Việt dùng trong các văn bản ở Việt Nam. Trong lịch sử cả nghìn năm Bắc thuộc, chữ Hán vẫn được người Việt dùng trong hành chính, hoành phi hoặc các tác phẩm câu đối. Tuy nhiên, người Việt phát âm chữ Hán không giống người Trung Quốc. Ví dụ: Chữ 愛 (yêu) người Trung đọc là /ài/ – nhưng phiên âm Hán Việt lại đọc là “ái”. Có thể thấy, chữ Hán không thể hiện được hết âm tiết, sắc thái của người Việt, nên âm Hán Việt được tạo ra để củng cố để phát âm chữ Hán sao cho phù hợp hơn với người Việt. Dần dần, theo nhu cầu phát triển, từ những âm Hán Việt và từ những ký tự chữ Hán, người Việt ta đã sáng tạo ra chữ Nôm.
2. Chữ Nôm
Chữ Nôm được tạo ra dựa trên cơ sở chữ Hán (chủ yếu từ là phồn thể), vận dụng phương thức tạo chữ hình thanh (Chữ được tạo bởi hai bộ phận, một bộ phận biểu thị ý nghĩa, một bộ phận biểu thị âm thanh), hội ý (Một chữ có nhiều phần, mỗi phần có một nghĩa, hợp các nghĩa của từng phần sẽ có nghĩa của toàn chữ), giả tá (Mượn thanh của từ này để diễn tả từ khác mà nó có ý nghĩa khác) của chữ Hán để tạo ra các chữ mới bổ sung cho việc viết và biểu đạt các từ thuần Việt không có trong bộ chữ Hán ban đầu.

Có rất nhiều phương pháp để tạo ra chữ Nôm, trong khuôn khổ bài viết này, Diệu Bình không thể trình bày hết được. Vì vậy, mình chỉ xin được đưa ra một số ví dụ sau để làm ví dụ có tính chất điển hình:
- Ví dụ 1: Chữ bán 半 trong chữ Hán có âm Hán Việt là bán nghĩa là một nửa, nhưng chữ Nôm mượn âm và hiểu theo nghĩa là bán trong mua bán.
- Ví dụ 2: Có những chữ nôm lại mượn nghĩa của hai chữ Hán để tạo ra âm Nôm như MỆT được ghép bởi chữ 亡 vong (nghĩa là mất) + chữ 力 lực (nghĩa là sức), tức là mất sức nên mệt.
- Ví dụ 3: Chữ trời được ghép bởi chữ thiên 天 và thượng 上 thượn, thiên ở trên là trời.
Chữ Nôm có thể xem là hình thức chữ chính thức của người Việt, do người Việt tạo ra dựa trên chữ Hán. Chữ Nôm cũng được khuyến khích sử dụng và phát triển mạnh mẽ với nhiều tác phẩm kinh điển như Truyện Kiều của Nguyễn Du. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng chữ Nôm quá khó học, bởi thế mà đa số dân chúng bình thường không tiếp thu được. Để dễ tưởng tượng, thì bạn cứ nhìn vào Trung Quốc, chính họ cũng nhận ra chữ Hán cổ của mình khó học nên phải giản lược bớt các nét, đơn giản hoá lại 2500 ký tự, để cho ra chữ Giản thể như hiện nay. Trong khi đó, chữ Nôm của người Việt mình được phát triển dựa trên chữ Hán cổ, nghĩa là muốn học chữ Nôm, phải tinh thông chữ Hán cổ, sau đó học thêm quy tắc tạo ra chữ của chữ Nôm. Khó càng thêm khó, bởi thế mà khi chữ Quốc ngữ ra đời, chữ Nôm và chữ Hán đã nhanh chóng trở thành quá khứ huy hoàng một thời.
3. Chữ Quốc ngữ
Chữ Quốc ngữ là hệ chữ viết chính thức của tiếng Việt hiện nay. Chữ Quốc ngữ được phát triển bởi các tu sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha, Ý và Pháp, thông qua việc cải tiến bảng chữ cái Latinh và kết hợp âm với quy tắc chính tả tiếng Bồ Đào Nha và một ít tiếng Ý.
Cấu tạo của chữ quốc ngữ Việt Nam:
| Chữ hoa | A | Ă | Â | B | C | D | Đ | E | Ê | G |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chữ thường | a | ă | â | b | c | d | đ | e | ê | g |
| Chữ hoa | H | I | K | L | M | N | O | Ô | Ơ | P |
| Chữ thường | h | i | k | l | m | n | o | ô | ơ | p |
| Chữ hoa | Q | R | S | T | U | Ư | V | X | Y | |
| Chữ thường | q | r | s | t | u | ư | v | x | y |
So với bảng chữ cái tiếng Anh, bảng chữ cái tiếng Việt có tới 29 chữ, trong đó có 7 chữ cái biến thể bằng cách thêm dấu như Ă-Â-Đ-Ê-Ô-Ơ-Ư. Mỗi chữ cái trong bảng đều có hai hình thức viết: chữ in hoa và chữ thường.
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, Chương I Điều 5 Mục 3 ghi là “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt”, khẳng định tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia. Tuy nhiên, Hiến pháp không đề cập đến “chữ viết quốc gia”, do các cải cách trong giáo dục để lại những khác biệt trong chính tả và phiên âm, dẫn đến chưa xây dựng được các quy tắc nhất quán được đồng thuận về chữ quốc ngữ trong cộng đồng sử dụng tiếng Việt.
Tên gọi “chữ quốc ngữ” được dùng để chỉ chữ quốc ngữ Latinh lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1867 trên Gia Định báo. Tiền thân của tên gọi này là chữ Tây quốc ngữ. Về sau từ Tây bị lược bỏ đi để chỉ còn là chữ quốc ngữ; còn tên gọi chữ Tây bấy giờ được chuyển sang để chỉ chữ Pháp. Quốc ngữ nghĩa mặt chữ là ngôn ngữ quốc gia, ở Việt Nam nếu không có từ bổ nghĩa kèm theo cho thấy từ quốc ngữ được dùng để chỉ một ngôn ngữ nào khác thì quốc ngữ mặc định là chỉ tiếng Việt.
4. Phân biệt chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ
| So sánh | Chữ Hán | Chữ Nôm | Chữ Quốc ngữ |
| Đặc điểm, cấu trúc | • Là kiểu chữ tượng hình, biểu ý, với mỗi ký tự đều được biểu thị bằng một khái niệm ý nghĩa. | • Là kiểu chữ viết dựa trên chữ Hán tạo ra ngữ âm, nghĩa. Hiểu theo cách khác, chữ Nôm là dạng ký tự được thể hiện bằng một âm cụ thể trong tiếng Việt. • Có sự kết hợp với các ký tự bổ sung nhằm diễn đạt các từ đặc trưng của tiếng Việt mà mà không có từ tương đương trong tiếng Trung. | • Là chữ biểu âm, ghi lại âm thanh của tiếng nói, phát âm như nào, viết như thế • Sử dụng 26 ký tự La tinh, và 5 dấu sắc, hỏi, ngã, huyền, nặng kết hợp lại để tạo ra chữ, từ có nghĩa. |
| Cách phát âm | • Chữ Hán mang tính tượng hình, trừu tượng nên yêu cầu người học cần phải giải thích ý nghĩa và cách phát âm dựa vào ngữ cảnh. | • Chữ Nôm có sự kết hợp từ vựng, ngữ pháp và sắc thái văn hóa tiếng Việt để thể hiện chính xác tiếng Việt hơn. • Chữ Nôm cho phép người học có thể phát âm linh hoạt hơn bởi vì loại chữ này thể hiện cụ thể các âm trong tiếng Việt. | • Chữ Quốc ngữ được tạo ra dựa trên tiếng nói của người Việt, nên viết ra như nào thì đọc như thế. Chiều ngược lại cũng đúng, đọc sao viết vậy. Dễ tiếp thu, dễ học cho đại đa số người dân. |
5. Kết luận
Qua bài viết này, hi vọng rằng các bạn đã hiểu và phân biệt được chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ. Có thể thấy, chữ Nôm có mối quan hệ mật thiết với chữ Hán, được tạo ra dựa trên chữ Hán. Chữ Nôm tận dụng khả năng biểu ý trong chữ Hán để tạo ra những ký tự phù hợp với ngữ âm của người Việt. Còn chữ Quốc Ngữ gần như không có quan hệ gì với hai thể chữ còn lại, mà được du nhập hoàn toàn từ phương Tây, mang tính biểu âm thuần tuý, viết sao đọc vậy. Vì sự đơn giản đó mà chữ Quốc ngữ đã dễ dàng thay thế chữ Nôm, chữ Hán, và trở thành thể chữ được sử dụng phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay.
